Đến nay năm 2018, sau 19 năm, Phật giáo tỉnh Bình Định lại tổ chức được Hội thảo Khoa học "Phật giáo và Văn học Bình Định - thành tựu và giá trị" kết hợp Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn sẽ diễn ra ngày 03, 04, 05 tháng 8 năm 2018 tại trường Trung cấp Phật học Bình Định, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước.
Phật giáo tỉnh Bình Định sau năm 1975 có một sự kiện quan trọng là tổ chức "Khóa bồi dưỡng hoằng pháp" tại chùa Long Khánh, TP.Quy Nhơn, vào năm 1999. Lúc đó Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn làm Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thành chứng minh Ban trị sự, các Ngài đã viên tịch từ nhiều năm về trước.
![]() |
Đến nay năm 2018, 19 năm sau. Phật giáo tỉnh Bình Định lại tổ chức được Hội Thảo Khoa Học "Phật giáo và Văn học Bình Định - thành tựu và giá trị" kết hợp Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn sẽ diễn ra ngày 03, 04, 05 tháng 8 năm 2018 tại trường Trung cấp Phật học Bình Định, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước.
Chủ đề cuộc Hội thảo Khoa học lần này "Phật giáo và văn học Bình Định - thành tựu và giá trị". Nói đến văn học tỉnh Bình Định chúng ta không thể không nói đến nhóm Bàn thành tứ hữu gồm:"Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên".
- Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22 tháng 9 năm 1912 – mất 11 tháng 11 năm 1940. Là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn.
Ông theo đạo Thiên chúa, nhưng trong thi ca của ông một số bài cũng ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo rất rõ nét, ông dùng từ ngữ Phật giáo rất nhiều:
Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
(Phan Thiết).
Thơ tôi thường huyền diệu
Mọc lên đạo từ bi
(Cao Hứng)
Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
(Hãy Nhập Hồn Em)
"Đao Lỵ", "Đâu Suất", "từ bi", là thuật ngữ của Phật giáo.
Những từ ngữ khác của Phật giáo như “hằng hà sa số” “mười phương” cũng thường gặp trong thơ ông:
Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
(Cuối Thu)
Đóng cửa mười phương lại
Dồn ánh sáng vào đây
(Điềm lạ)
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương
(Nguồn thơm)
"Chín phương trời, mười phương Phật" cũng của nhà Phật.
"Bây giờ chúng tôi đương ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy rõ đâu là chín phương trời, mười phương Phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiêu diêu đến nỗi đôi đồng tử của chị tôi và tôi lờ đi vì chói lói..."
(chơi giữa mùa trăng)
- Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàn thành tứ hữu" của Bình Định.
Cái chất của nhà Phật, của tư tưởng triết học ở nơi ông bàn bạc trong tập Điêu Tàn, ông còn rất trẻ chưa tới 17 tuổi ông đã có tư tưởng hư vô, vô thường:
Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa!
Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi!
*
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh,
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh
Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo.
(Những Sợi Tơ Lòng)
“Ngày mai đây muôn loài đều tan rã
Vũ trụ kia rồi biến ra Hư Không!”
----
Cùng như thế nơi xa xăm trong cõi Chết,
Bao cô hồn vẫn sống tháng ngày qua,
----
Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo,
Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!
----
Trông tháng ngày, yên đẻ lệ sầu rơi!
----
Lòng hỡi lòng! Biết đâu là Âm giới?
Biết nơi đâu cõi sống của muôn người?
Trong U Minh hồn ta đương lạc lối
(Bóng tối)
Khi còn trẻ ông đã là thế, quá nửa cuộc đời ông lại chìm sâu vào tư tưởng Phật giáo, luân hồi, sinh diệt:
"Anh tồn tại mãi
Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi
Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên"
(Từ thế chi ca)
Ông là nhà thơ suy tư, triết lý về sống chết, ngay từ lúc 16 - 17 tuổi, trong tập thơ Điêu Tàn ta đã thấy điều đó, khi nghe tin bạn mình nhà thơ Xuân Diệu từ trần ông đã bi cảm:
Xe tang qua 24 Cột Cờ
Xuân Diệu không vào nhà mình được nữa!
Nhà anh từ nay là nấm mộ
Anh chỉ dừng đây chốc lát rồi qua
Con đường về nghĩa trang dài thăm thẳm
Tưởng đi nghìn năm không cùng
Thế mà chốc lát ta đã trước nấm mồ đào sẵn
Để chôn một thiên tài, thế là sâu hay nông?
........
Bỏ một nắm đất xuống mồ anh: Vĩnh biệt!
Diệu nằm ở trong thơ chớ đâu ở di hài!
Bệnh viện Chợ Rẫy, 27-10-1988
Trong Phật giáo có Bồ tát Quan Thế âm, chúng sinh gọi Ngài là Bồ tát "Lắng Nghe". Nghe tiếng đau thương của cuộc đời tìm đến cứu giúp. Thiền sư Nhất Hạnh khi giảng tại chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn năm 2007, hôm đó buổi giảng bị ồn vì quá đông, Thiền Sư có nói: "Nếu các vị không lặng im, thì làm sao mà lắng nghe". Những từ: lắng nghe, lặng im, hiểu thương... giới Phật giáo thường hay xử dụng. Bài thơ "lặng im thì mới nghe" có chất Thiền sâu lắng của nhà Phật:
Lặng im thì mới nghe.
Lặng im
Lặng im thì mới nghe
Nhựa đong đầy các nhánh
Như hồn anh đầy em
Lặng im
Lặng im thì mới tỏ
Nhánh đang hút từ sâu
Cái làm nên nụ đỏ.
Nghe, mùa xuân, nghe nghe
Lặng im mà mọi chỗ
Cái im giữa lòng ta
Cũng là mùa xuân đó
Nếu lòng ta thiếu nó
Thì bao giờ ta nghe
Cầm tay em vuốt ve
Hồn im cho tay nghe.
Trong nhà Phật nói rằng: "Nếu an trú chánh niệm trong giây phút hiện tại thì đã dung nhiếp cả quá khứ và tương lai. Ba thời dung chứa lẫn nhau. Một giây phút chứa đựng tất cả các giây phút khác. Giây phút chứa đựng thiên thu.
Ông đã thâm nhập tư tưởng Phật giáo một cách sâu sắc qua bài thơ "Ngủ trong sao"
Đêm hôm nay ngồi đây trên bờ bể,
Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ.
Đã trôi trong một phút vội vàng qua,
Ta lắng nghe những thế giới bao la.
Tụ họp lại trong lòng muôn hạt cát .
(Ngủ trong sao).
Ông mất ngày 19.6.năm 1989 hưởng thọ 68 tuổi, tang lễ theo nghi thức Phật giáo và thờ tại chùa Vĩnh Nghiêm, TP.HCM.
- Yến Lan sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916, quê tại thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn (nay là phường Bình Định, thị xã An Nhơn), tỉnh Bình Định. Ông nội Yến Lan là nhà nho, thuộc dòng Minh Hương ở Phúc Kiến.<1> Mồ côi mẹ năm 6 tuổi, Yến Lan sống bằng nghề dạy học tư và viết văn. Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn hợp thành Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất Bình Định) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó. Trong giai đoạn này, ông cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng tác theo trường phái Thơ loạn (còn gọi là Thơ điên) với những trăng, xương, máu, hồn ma... trong thơ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Uỷ viên văn hoá Cứu quốc Bình Định (1947–1949); là Uỷ viên văn hoá kháng chiến Nam Trung bộ, trưởng đoàn kịch Kháng chiến. Từ 1950 đến 1954 ông làm công tác văn hoá văn nghệ ở Bình Định. Sau 1954, Yến Lan tập kết ra Bắc, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, làm việc tại Nhà xuất bản Văn học và tham gia phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, ông trở về công tác tại Hội văn nghệ Bình Định.
Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Đạo Phật đã có mặt ở đất nước Việt Nam chúng ta hơn 2000 năm, đã cắm rễ sâu vào nhiều lãnh vực đời sống, nhất là tư tưởng triết lý, văn học thi ca... Thuyết luân hồi, duyên sinh, nhân quả, ở hiền gặp lành, vô thường, sắc không, sinh diệt, vô ngã.... đi vào tâm thức dân tộc nhẹ nhàng tự nhiên như nước hòa với sữa, do vậy các nhà văn nhà thơ hơn ai hết họ đã tự nhiên, mặc nhiên khi sáng tác, cứ như thế mà tư tưởng, từ ngữ nhà Phật tự nhiên tuôn chảy ra không hề gượng ép.
![]() |





